Hiển thị các bài đăng có nhãn ung thư tuyến giáp. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn ung thư tuyến giáp. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 5 tháng 3, 2020

Mô bệnh học và chẩn đoán giai đoạn Ung thư tuyến giáp

Qua chủ đề này, quý vị sẽ có hiểu biết sâu hơn về bệnh lý Ung thư tuyến giáp. Tuy nhiên do vấn đề chuyên môn sâu nên có thể nhiều quý vị sẽ thấy khó hiểu, nhất là những người chưa từng tìm hiểu về bệnh này. Do vậy, chúng tôi xin trình bày tóm tắt và khái quát, dễ hiểu nhất.

I. PHÂN LOẠI MÔ BỆNH HỌC UNG THƯ TUYẾN GIÁP
Theo chúng tôi biết, có rất nhiều bệnh nhân thắc mắc: “sao bệnh của tôi là ung thư tuyến giáp thể nhú còn người bệnh cùng phòng tôi lại có người thể nang?”, hay “ ung thư tuyến giáp thể nhú thì là bệnh nặng hay bệnh nhẹ vậy bác sĩ?”,...
Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO), dựa vào mô bệnh học có thể phân chia UTTG thành 6 loại:
➤ Ung thư biểu mô thể nhú: chiếm khoảng 70-90% các UTTG
Ung thư tuyến giáp biệt hóa thể nhú
 Ung thư biểu mô thể nang (10-15%)
                                             Ung thư tuyến giáp biệt hóa thể nang
 Ung thư biểu mô thể tuỷ (3-5%): phát sinh từ tế bào C của tuyến giáp.
 Ung thư biểu mô không biệt hoá (1-2%)
 Ung thư biểu mô vảy (1%)
 Thể hiếm gặp (1-2%): ung thư biểu mô tế bào trụ, tế bào nhày dạng thượng bì, UTTG biểu mô thoái sản.
II. CHẨN ĐOÁN GIAI ĐOẠN
- Phân loại TNM UTTG theo Hiệp hội Ung thư Mỹ (American Joint Committee on Cancer – AJCC 8) năm 2018:
Khối u nguyên phát ( pT ) cho UTTG thể biệt thể nhú, nang, biệt hóa kém, tế bào Hurthle và UTTG không biệt hóa:
Tx: Khối u nguyên phát không thể đánh giá được.
T0: Không có bằng chứng của khối u nguyên phát.
T1: u ≤ 2 cm ở kích thước lớn nhất, giới hạn ở tuyến giáp.
T1a: ≤ 1 cm ở kích thước lớn nhất, giới hạn ở tuyến giáp.
T1b: 1cm < u ≤ 2cm ở kích thước lớn nhất, giới hạn ở tuyến giáp.
T2: 2cm < u ≤ 4 cm ở kích thước lớn nhất, giới hạn ở tuyến giáp.
T3: u> 4 cm giới hạn ở tuyến giáp hoặc có xâm tối thiểu ngoài tuyến giáp.
T3a : u> 4 cm giới hạn ở tuyến giáp.
T3b: U có kích thước bất kì, có xâm tối thiểu ngoài tuyến giáp (cơ giáp móng hoặc phần mềm cạnh tuyến giáp).
T4: Bao gồm mở rộng tuyến giáp vào các cấu trúc chính vùng cổ.
T4a: U kích thước bất kỳ nhưng đã phát triển qua vỏ bao tuyến giáp xâm lấn vào tổ chức phần mềm dưới da, thanh quản, khí quản, thực quản, hoặc thần kinh quặt ngược.
T4b: Khối u kích thước bất kì xâm lấn vào khoang cạnh cột sống , vào động mạch cảnh hay các mạch máu trong trung thất.
Khối u nguyên phát (pT) cho ung thư biểu mô tuyến tủy:
Tx -T3: Định nghĩa tương tự như trên
T4: Bệnh tiến triển.
T4a: Bệnh tiến triển vừa phải: khối u có kích thước bất kỳ với sự mở rộng quá mức của tuyến giáp vào các mô gần cổ, bao gồm mô mềm dưới da, thanh quản, khí quản, thực quản hoặc dây thần kinh thanh quản tái phát.
T4b: Bệnh rất tiến triển: khối u kích thước bất kỳ với phần mở rộng về phía cột sống hoặc thành lân cận mạch máu lớn, xâm lấn các khoang cạnh sống hoặc động mạch cảnh hoặc mạch máu trung thất.
N: hạch lympho tại vùng (hạch cổ và trung thất trên):
Nx: Không xác định được hạch di căn
N0: không di căn hạch
N0a*: Một hoặc nhiều hạch bạch huyết lành tính được xác nhận tế bào học hoặc mô học.
N0b*: Không có bằng chứng phóng xạ hoặc lâm sàng của di căn hạch bạch huyết.
N1: di căn hạch lympho tại vùng.
N1a*: di căn hạch lympho nhóm VI (hạch trước khí quản, cạnh khí quản, trước thanh quản) hoặc hạch sau họng hoặc hạch trung thất trên (nhóm VII).
N1b*: Di căn đến các hạch bạch huyết cổ một bên hoặc hai bên (cấp I, II, III, IV hoặc V) hoặc các hạch bạch huyết sau màng phổi.
M: Di căn xa
M0: không có di căn xa
M1: có di căn xa
Phân nhóm giai đoạn tiên lượng theo AJCC 8 (năm 2018):
Ung thư tuyến giáp biệt hóa:
- Tuổi chẩn đoán <55 tuổi
Giai đoạn I: mọi T, mọi N, M0
Giai đoạn II: mọi T, mọi N, M1
- Tuổi chẩn đoán ≥ 55 tuổi
Giai đoạn I: T1-2, N0/Nx, M0
Giai đoạn II: mọi T, N1, M0; T3a/3b, mọi N, M0
Giai đoạn III: T4a, mọi N, M0
Giai đoạn IV4a: T4b, mọi N, M0
Giai đoạn IV4b: mọi T, mọi N, M1
Ung thư tuyến giáp thể tủy: bao gồm giai đoạn I,II,III, IVa.IVb, Ivc
Ung thư tuyến giáp thể không biệt hóa: khi bệnh nhân UTTG có thể mô bệnh học là thể không biệt hóa thì mặc định được xếp giai đoạn IV (bao gồm: IVa, IVb, IVc).
III. MINH HỌA LÂM SÀNG:
BN 1: Nguyễn T A 1988 Chẩn đoán: Ung thư tuyến giáp thể nhú T1N0M0 đã phẫu thuật
Phân tích: bệnh nhân này thể mô bệnh học là thể nhú, xếp vào nhóm UTTG thể biệt hóa, có chỉ định điều trị với I-131. Giai đoạn bệnh: giai đoạn I.
BN2: Lê T B 1955 Chẩn đoán: UTTG thể nang T4aN1aM0 đã phẫu thuật
Phân tích: bệnh nhân này thể mô bệnh học là thể nang, xếp vào nhóm UTTG thể biệt hóa, có chỉ định điều trị với I-131. Giai đoạn bệnh: giai đoạn III.
IV. KẾT LUẬN:
- Ung thư biểu mô tuyến giáp thể biệt hóa (differentiated carcinoma) gồm: thể nhú, thể nang, thể hỗn hợp chiếm khoảng 85-90% UTTG, có tiến triển chậm và tiên lượng tốt, đáp ứng tốt với điều trị bằng 131I, 85-90% BN sống thêm được trên 10 năm.
- UTTG thể không biệt hóa khi phát hiện thường đã muộn, tiến triển nhanh, đa số bệnh nhân có thời gian sống thêm dưới 1 năm.
- UTTG Thể tủy có tiên lượng xấu hơn thể biệt hóa và tốt hơn thể không biệt hóa, tỷ lệ sống sau 5 năm khoảng 75%, 10 năm là 68%.

Thứ Ba, 3 tháng 3, 2020

Đặc điểm dịch tễ, triệu chứng lâm sàng và chẩn đoán ung thư tuyến giáp

Hôm nay, Viện Y học phóng xạ và U bướu Quân đội muốn mang đến cho quý vị thông tin bổ ích về bệnh Ung thư tuyến giáp (UTTG). Chủ đề số 1 là những thông tin về: “Đặc điểm dịch tễ, triệu chứng lâm sàng và chẩn đoán ung thư tuyến giáp”. Qua chủ đề này, quý vị sẽ có cái nhìn ban đầu và hiểu biết đúng đắn về bệnh lý ung thư tuyến giáp.

Xin chào các bạn cùng các bệnh nhân thân yêu của viện Y học phóng xạ và U bướu Quân đội. Hôm nay, Viện muốn mang đến cho mọi người thông tin bổ ích về bệnh Ung thư tuyến giáp. Chủ đề số 1, chúng tôi muốn mang đến thông tin về: “Đặc điểm dịch tễ, triệu chứng lâm sàng và chẩn đoán ung thư tuyến giáp” . Qua chủ đề này, quý vị sẽ có cái nhìn ban đầu và hiểu biết đúng đắn về bệnh lý Ung thư tuyến giáp.
1. DỊCH TỄ
Có bao giờ các bạn thấy băn khoăn và tự hỏi tại sao gần đây những người thân, bạn bè quanh mình nhiều người bị mắc ung thư tuyến giáp? Sự thực thì thống kê cho thấy đúng là số lượng bệnh nhân ung thư tuyến giáp  được phát hiện mới đang tăng nhanh. Trước kia, ung thư tuyến giáp là bệnh ung thư có tỉ lệ mắc không cao nhưng những năm gần đây ung thư tuyến giáp đứng trong top 5 loại bệnh ung thư thường gặp nhất ở nữ giới, sau các bệnh ung thư vú, phổi, đại trực tràng và ung thư cổ tử cung. Năm 2018 ước tính trên thế giới có khoảng 560.000 BN mới mắc và 41.000 BN chết do căn bệnh này. Đây là bệnh đứng thứ 9 trong số 10 bệnh ung thư thường gặp. Tại Mỹ, tỉ lệ mắc bệnh tăng 6,4%/ năm. Tuy nhiên đất nước được coi là có tỉ lệ bệnh ung thư tuyến giáp tăng nhiều nhất chính là Hàn Quốc với số bệnh nhân tăng 15 lần trong khoảng 20 năm.

Nguyên nhân tăng của bệnh ung thư tuyến giáp có nhiều lí do, một trong số đó là do sự ô nhiễm môi trường, nước, không khí và lương thực thực phẩm; do bức xạ ion hóa, bức xạ điện từ, hóa chất độc hại sử dụng ngày 1 nhiều ... Nguyên nhân tăng số lượng bệnh nhân ung thư tuyến giáp được chẩn đoán và điều trị trong thời gian gần đây là do ngành y tế được trang bị nhiều máy móc hiện đại, đặc biệt là máy siêu âm. Các máy siêu âm thế hệ mới có độ phân giải cao có thể thấy được các nhân rất nhỏ trong tuyến giáp. Nguyên nhân thứ hai là nhân dân quan tâm tới sức khỏe nhiều hơn, chịu khó khám sức khỏe và siêu âm tuyến giáp. Số người mắc tăng cao nhưng số người chết vì bệnh này không tăng do bệnh được phát hiện sớm, điều trị kịp thời. Bệnh ung thư tuyến giáp là bệnh có thể điều trị khỏi.


Zalo
Hình ảnh giải phẫu tuyến giáp
2. TRIỆU CHỨNG
- Trong giai đoạn sớm, người bệnh thường không có biểu hiện gì. Phần lớn bệnh nhân phát hiện bệnh nhờ soi gương thấy cổ to, sờ thấy khối u, hạch vùng cổ hoặc qua khám sức khỏe định kì, qua siêu âm kiểm tra tuyến giáp.
- Giai đoạn muộn, khi khối u lớn xâm lấn thường có các biểu hiện chèn ép các cơ quan lân cận: nói khàn, nuốt nghẹn, khó thở.
3. XÉT NGHIỆM
3.1. Siêu âm tuyến giáp:
Siêu âm tuyến giáp là xét nghiệm đơn giản, rẻ tiền và dễ dàng phát hiện các bệnh lí tuyến giáp. Siêu âm có thể cho bạn biết chính xác xem bạn có các khối u trong tuyến giáp và có các hạch di căn vùng cổ hay không. Siêu âm đánh giá chính xác vị trí, kích thước và tính chất nhân. Các bác sĩ siêu âm sẽ đánh giá khối u tuyến giáp theo phân loại TIRADS (TIRADS 4-5 thì có nguy cơ ung thư cao).
Khi các BS phát hiện khối u tuyến giáp của bạn có nguy cơ ung thư thì xét nghiệm tiếp theo cần làm là xét nghiệm tế bào


Zalo
Siêu âm tuyến giáp trên máy siêu âm Acuson S2000 Siemens
3.2. Chọc hút tuyến giáp bằng kim nhỏ: Là phương pháp có giá trị chẩn đoán cao, độ chính xác 90-95%. Kết quả xét nghiệm có thể là lành tính, ác tính hoặc nghi ngờ. Đặc biệt khi tìm thấy tế bào ác tính ở hạch thì chắc chắn là ung thư tuyến giáp. Tỷ lệ âm tính giả dưới 5%.


Zalo
Chọc hút tuyến giáp bằng kim nhỏ


Zalo
Chọc hút tuyến giáp bằng kim nhỏ dưới hướng dẫn siêu âm
4. KIẾN NGHỊ
Từ đặc điểm dịch tễ trên có thể thấy, Ung thư tuyến giáp là bệnh lý ung thư tuyến nội tiết hay gặp ở nữ giới, tỷ lệ mắc ở nữ nhiều hơn nam từ 3 đến 4 lần tùy khu vực địa lý. Do vậy, phụ nữ cần đặc biệt quan tâm đến bệnh lý này. Triệu chứng gợi ý bệnh ban đầu: nuốt vướng, tự soi gương hoặc tự sờ thấy khối to vùng cổ.
Siêu âm là phương tiện chẩn đoán vô cùng hiệu quả ung thư tuyến giáp, vừa tiện, vừa rẻ và có thể làm được ở nhiều cơ sở y tế trên toàn quốc. Do vậy, mọi người nên kiểm tra sức khỏe, làm siêu âm vùng cổ đều đặn năm 1 đến 2 lần. Đặc biệt với những người phát hiện nhân tuyến giáp trước đó cần siêu âm định kỳ đo lại kích thước và chọc tế bào để chẩn đoán kịp thời ung thư tuyến giáp.
Ung thư tuyến giáp là bệnh lý có thể điều trị khỏi nếu phát hiện sớm và điều trị đúng. Do vậy, bệnh nhân ung thư tuyến giáp không nên quá lo lắng về bệnh tật.